Xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp để Hiến pháp được thực thi
Trong lần sửa đổi Hiến pháp này, Việt Nam cũng đang xem xét để xây dựng một cơ chế bảo vệ Hiến pháp để “phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” như nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2006) đã đề ra.
Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng!
Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là một trong những nội dung được đặc biệt quan tâm bởi đây là “cơ sở pháp lý cốt lõi khẳng định và củng cố vai trò của Đảng” và việc thực hiện nghiêm chỉnh điều này “chắc chắn sẽ lấy lại được niềm tin vốn rất lớn lao của nhân dân ta đối với Đảng tiền phong” như quan điểm của GS.NGND Nguyễn Lân Dũng.
Bình luận về tính hợp lý và khả thi giao cho hệ thống tòa án nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo hiến
So sánh với một số nước trên thế giới thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa có bề dày lịch sử về những thành tựu xây dựng nhà nước pháp quyền cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống tài phán Hiến pháp, cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam còn thiếu một cơ quan độc lập, chuyên trách được giao nhiệm vụ bảo hiến. Tuy vậy, vấn đề bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và trong lịch sử lập hiến, cơ chế bảo vệ này đã được ghi nhận ngay từ Hiến pháp năm 1946. Trải qua bốn bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980 và 1992), bên cạnh việc xác định tính tối cao của Hiến pháp, Nhà nước cũng đã chế định các nội dung liên quan đến phương thức bảo vệ Hiến pháp nhưng nét đặc trưng là không mang tính chất tài phán, phi tập trung và giao cho nhiều chủ thể cùng thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
Khi quyền hiến định của người dân bị giới hạn “theo quy định của pháp luật”
Dự thảo Hiến pháp hiện hành quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật (Điều 26- Sửa đổi, bổ sung Điều 69); Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật (K2. Điều 31 - Sửa đổi, bổ sung Điều 74).
Chế độ kinh tế trong Hiến pháp năm 1992 - Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung
Chế độ kinh tế là một chương quan trọng trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) gồm 15 điều (từ Điều 15 đến Điều 29). So với các quy định tương ứng trong Chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp năm 1980, các nội dung trong Chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp hiện hành có giá trị thực tiễn và giá trị lịch sử to lớn. Các quy định này đã kịp thời thể chế hóa sự thay đổi mang tính cách mạng trong chính sách phát triển kinh tế của nước ta theo hướng xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang mô hình phát triển nền kinh tế thị trường, thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của khu vực kinh tế tư nhân, xây dựng nền kinh tế mở, mềm hóa sự tuyệt đối hóa vai trò của khu vực quốc doanh trong nền kinh tế. Những quy định về mô hình phát triển kinh tế, mục đích chính sách kinh tế, các loại thành phần kinh tế được phép tồn tại, chế độ sở hữu một số tư liệu sản xuất chủ yếu đã có tác dụng rất lớn đối với việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, góp phần đưa Việt Nam thành điểm đến thân thiện hơn đối với các nhà đầu tư tư nhân ở trong và ngoài nước, tạo tiền đề pháp lý quan trọng để phát triển khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế nhà nước.