Xác định thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính

18/11/2008
Biên bản vi phạm hành chính là căn cứ để xác định mức độ vi phạm hành chính, tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hành chính, đặc biệt Biên bản còn là căn cứ để ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính (Trừ trường hợp xử phạt theo Thủ tục đơn giản: Trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 5.000 đồng đến 100.000 đồng). Do vậy công đoạn lập biên bản vi phạm hành chính có ý nghĩa quan trong trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, về nội dung của biên bản đã được mẫu hoá bằng văn bản (Ban hành kèm theo )

Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2008 thì Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản. Trong trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản đó phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.

Trong trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay sau khi xác định được người có hành vi vi phạm.

Vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay, tàu biển thì người chỉ huy tàu bay, tàu biển có trách nhiệm lập biên bản để chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt khi tàu bay, tàu biển về đến sân bay, bến cảng.”

Tuy nhiên, khái niệm công vụ là gì, những người nào là những người đang thi hành công vụ? thì lại chưa được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật nói riêng và trong từ điển bách khoa nói chung. Do đó đã gây nên khó khăn không ít trong việc xác định thẩm quyền  lập biên bản vi phạm hành chính.

Hiện nay trong vài chục Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính và thông tư hướng dẫn thi hành mới chỉ có 3 văn bản chỉ rõ thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, đó là:

Nghị định 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp  Lập biên bản vi phạm hành chính, tại Điều 42 quy định “Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp là người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, công chứng viên, cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp.”

Nghị định 14/2005/NĐ-CP ngày 04/02/2005 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê, tại Điều 29 quy định Khi phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê là cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về thống kê và người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê.”

Và thông tư Số 03/2003/TT-BCN ngày 19/11/2003 của Bộ công nghiệp Hướng dẫn thi hành một số Điều của Nghị định số 74/2003/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, tại khoản 2 mục III quy định “Kiểm tra viên điện lực đang thi hành công vụ có trách nhiệm lập biên bản theo đúng mẫu quy định tại Nghị định số 74/2003/NĐ-CP đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực mà mình phát hiện và chuyển ngay tới người có thẩm quyền xử phạt. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký theo quy định tại khoản 3 Điều 55 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.”

Việc xác định rõ khái niệm công vụ là gì? hoạt động công vụ bao gồm những hoạt động nào? và những người nào là những người đang thi hành công vụ? không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính làm căn cứ xử phạt hành chính mà còn liên quan đến pháp luật hình sự (tội chống người thi hành công vụ), liên quan đến trách nhiệm của cán bộ công chức khi thi hành nhiệm vụ, công vụ…Do đó cần phải quy định khái niệm công vụ là gì, những người nào là những người đang thi hành công vụ trong một văn bản có tính chất pháp lý cao để làm cơ sở áp dụng chung cho các lĩnh vực pháp luật, chẳng hạn như phải được điều chỉnh bởi Bộ luật Công chức Việt Nam.

Nguyễn Công Hanh - Sở Tư pháp Hà Nam